
Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước
Thấy bóng mình ngỡ ai
Bò chào: kìa anh bạn
Lại gặp anh ở đây
Nước đang nằm nhìn mây
Nghe bò cười toét miệng
Bóng bò chợt tan biến
Bò tưởng bạn đi đâu
Cứ ngoái trước nhìn sau
Ậm ò tìm gọi mãi

Có những cái cây từ buổi sớm khi những ánh bình minh đầu tiên chiếu rọi...
...cho đến khi nắng nhạt dần trên cánh lá mỗi khi hoàng hôn vụt tắt...
Thiên nhiên vì lý do nào đã để nó lạc loài giữa khung cảnh xung quanh? Vì một sứ mệnh tốt đẹp hay một trò đùa vui phút chốc?
Có lẽ lý do đơn giản rằng mọi thứ đều diễn ra thật tự nhiên... Rằng một chú chim nào đó đã vô tình mang hạt giống của cây thả xuống cánh đồng này.
Có những cái cây không những phải chịu cảnh cô đơn mà phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt...
...để rồi sinh ra một mình và chết đi cũng chỉ một mình. Có ai biết đến sự tồn tại của nó?
Có những cái cây rất đẹp, không lấy làm buồn vì phải đứng một mình. Nó hài lòng vì đã đứng xa những cái cây xấu xí...
Nó tự đứng gặm nhấm sắc đẹp của mình
Gặm nhấm cho đến khi già nua và hấp hối: "Vâng, tôi ạ, ngày xưa tôi đã rất đẹp đấy".
Có những cái cây muốn lại gần những cây khác mà không được. Vì nó là cây, chỉ là cây.
Khi con người buồn, con người cô đơn, con người tuyệt vọng... Con người vẫn còn có chân để có thể đi tìm lấy niềm vui, niềm hạnh phúc... Còn cây thì không
Source: eva.vnBức tranh “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” của Géricault chính là một mồi lửa châm vào ngòi nổ đó, bởi nó đã làm cho người xem kinh hãi nhận ra rằng “Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”, như bình luận của Jonathan Miles về tác động của bức tranh. Có lẽ chưa có một tác phẩm nào chỉ rõ giới hạn phân biệt con người với con vật một cách rõ ràng và sâu sắc đến thế.
Trước khi bắt đầu vẽ bức tranh chính thức, Géricault thực hiện một loạt phác thảo nghiên cứu với 3 cách thể hiện chủ yếu: 1-Cảnh binh lính chống lại các sĩ quan trong ngày thứ hai; 2-Cảnh ăn thịt người xẩy ra sau vài ngày trên bè; 3-Cảnh những người trên bè vẫy gọi con thuyền ở xa đến cứu.
Cuối cùng ông chọn cách thể hiện thứ ba, có lẽ trước hết vì ông nghĩ rằng cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi có hy vọng, dù chỉ là một hy vọng mong manh – con người không thể tiếp tục sống khi tuyệt vọng. Hơn nữa, vì ông đã trực tiếp phỏng vấn những người sống sót, nên chắc chắn những người này đã truyền cảm hứng cho ông. Với họ, chỉ có giây phút hy vọng được sống mới đáng nói, còn tất cả những gì xẩy ra trước đó chỉ là một cơn ác mộng khủng khiếp mà họ muốn quên đi! Thật vậy, những người này kể rằng lần đầu trông thấy chiếc Argus, họ đã ra sức vẫy gọi nhưng chiếc Argus dường như không nhận thấy dấu hiệu, do đó đã đi qua rồi biến mất. Lúc ấy, “từ niềm vui và hy vọng cuồng nhiệt, chúng tôi trở lại nỗi thất vọng cay đắng và sầu muộn không nói sao cho hết”, họ nói. Nhưng 2 tiếng sau, đúng vào lúc mọi hy vọng tắt ngấm thì chiếc Argus bỗng nhiên xuất hiện trở lại và lần này đã trông thấy chiếc bè … Géricault nhấn mạnh tới thời điểm đó để nói với nhân loại rằng cuộc sống có giá trị thiêng liêng đến chừng nào, và những kẻ cướp đi cuộc sống của người khác có tội lớn đến chừng nào!
Đằng sau cánh cửa đóng kín:
Có lẽ tin tức trên báo chí không đủ nên đầu năm 1818, Géricault đã tìm gặp và trò chuyện với Henri Savigny và Alexandre Corréard, 2 trong số những người sống sót, rồi 3 người lại cùng với một người sống sót khác là Lavillette, một thợ mộc, cùng nhau dựng lại mô hình chiếc bè chính xác tới từng chi tiết, thậm chí tới từng lỗ hổng giữa các tấm ván, để làm vật mẫu cho bức tranh. Bất chấp ốm đau (ho lao), ông còn tới Le Havre để ngắm nhìn biển cả dưới bầu trời, chứng kiến cảnh giông bão ngoài biển để đưa nó vào trong tranh . Ông cũng tới nhà xác và bệnh viện để nhìn tận mắt mầu sắc và chất liệu bằng xương bằng thịt của những người sắp chết và đã chết. Ông dựng xưởng vẽ ngay bên kia đường bệnh viện Beaujon. Tại đây ông bắt đầu rơi vào tâm trạng buồn thê lương, buồn cho thân phận yếu ót của con người trước những đe doạ của tự nhiên và của cái ác. Đằng sau cánh cửa đóng kín, ông ném mình vào công việc. Không gì có thể lôi kéo ông ra khỏi đó. Ông bị ám ảnh bởi câu chuyện đang vẽ đến nỗi luôn luôn sợ hãi và né tránh mọi người.
Ông nhờ bạn bè làm người mẫu để vẽ. Eugène Delacroix (1798–1863), một bạn thân của ông đồng thời cũng là một hoạ sĩ nổi tiếng, được chọn làm mẫu để vẽ nhân vật trong tranh đang ngồi thẫn thờ buồn bã, đầy thất vọng, tay phải chống lên má, tay trái buông xuôi trên thân thể đứa con nằm trên đùi. Chính Delacroix cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện kinh hãi này. Ông kể: “Géricault cho tôi xem bức Chiếc bè của chiến thuyền Méduse ngay khi ông đang còn vẽ dở dang. Bức tranh đã gây một ấn tượng rất mạnh và khủng khiếp đối với tôi, đến nỗi khi ra khỏi phòng tranh, tôi bắt đầu chạy như một thằng điên không dừng lại cho tới khi về đến nhà và chui tọt vào phòng mới thôi”
Lòng Nhân:Géricault được coi là một trong những người “khai sáng” ra “chủ nghĩa lãng mạn” (Romanticism) trong hội hoạ. Điều này hơi khó hiểu đối với những người không nghiên cứu hội hoạ. Tuy nhiên sẽ không có gì khó hiểu nếu nói rằng tranh của Géricault thể hiện rõ rệt tinh thần hiện thực chủ nghĩa (réalistic) và nhân đạo chủ nghĩa (humanistic), mặc dù bản thân ông chẳng tuyên bố về bất cứ một thứ chủ nghĩa nào. Đơn giản ông chỉ vẽ theo cảm xúc, ông vẽ vì xúc động trước nỗi đau của người khác và vẽ để tuyên chiến với tội ác. Thời gian ông tập trung để vẽ bức tranh cuối cùng hết 8 tháng, nhưng toàn bộ dự án kể từ việc nghiên cứu, phác thảo, … đến khi hoàn tất tác phẩm tổng cộng hết 18 tháng. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên tại Salon ở Paris năm 1819, “chiếc bè của Géricault đã trở thành tâm điểm của phòng tranh, nó đập vào mắt mọi người và kéo người xem vây quanh nó”, tờ Le Journal de Paris bình luận.
Công trình của Géricault đã đối mặt với một nghịch lý lớn của hội hoạ: Làm thế nào để một chủ đề kinh hãi và thậm chí “ghê tởm” như thế có thể trở thành một tác phẩm mỹ thuật được tán thưởng? Làm thế nào để nghệ thuật hoà giải được với thực tế?
Một hoạ sĩ Pháp cùng thời với Géricault là Marie de la Couperie, nói: “Ngài Géricault đã nhầm rồi. Mục tiêu của hội hoạ là nói những điều đẹp đẽ với tâm hồn và con mắt, thay vì gây ra cảm giác khó chịu gớm tởm như thế”.
Nhưng bức tranh vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có nhà văn kiêm nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Auguste Jal, một người không tiếc lời ca ngợi chủ đề mang tính chính trị chống đối và ý thức đòi tự do của nó (bênh vực người thấp cổ bé họng, phê phán chủ nghĩa bảo hoàng cực đoan). Nhà sử học Jules Michelet còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi ông cảnh báo xã hội đương thời: “Toàn bộ xã hội chúng ta đang đi trên chiếc bè Méduse”.
Cuối cuộc triển lãm năm 1819, ban giám khảo quyết định trao tặng huy chương vàng cho bức tranh, tuy nhiên vẫn chưa chịu công nhận giá trị của nó tới mức cần phải tuyển chọn để đưa vào bộ sưu tập tranh quốc gia tại Bảo tàng Louvre. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, cuối cùng nó cũng đã được đưa về Louvre. Tại đây, lời giới thiệu trưng bầy bên cạnh bức tranh nói với chúng ta rằng “người anh hùng duy nhất trong câu chuyện bi thảm đầy thương tâm này là tinh thần nhân đạo”.
Một người đọc xong lời giới thiệu đó liền quay sang thắc mắc với tôi: “Tinh thần nhân đạo gì ở đây vậy?”.
Tôi suy nghĩ nhanh rồi trả lời: “Géricault muốn tất cả chúng ta thắp hương cầu nguyện cho những linh hồn xấu số, gián tiếp kêu gọi loài người đừng bao giờ đẩy đồng loại tới chiếc bè của chiến thuyền Méduse, đừng bao giờ đối xử với nhau như những người ở trên chiếc bè đó nữa! Con người phải xứng đáng là con người, trong đó LÒNG NHÂN và chỉ có LÒNG NHÂN mới là giá trị đích thực!”.(đã đăng trên Khoa Học & Tổ Quốc và Vietsciences tháng 07-2010)
Nguồn: Bảy Màu

Ở đâu tôi cũng gặp những câu hỏi, tuổi càng cao, câu hỏi càng nhiều hơn và một số trong đó đã mãi mãi thành nan vấn, nghĩa là có thể mãi mãi sẽ không có câu trả lời.
Những câu hỏi làm tôi sợ hãi. Đó là cái sợ tự nhiên của bản năng con người, cũng do nguồn gốc của gia giáo dạy tôi phải biết tự trọng, là tự coi mình có trách nhiệm phải hiểu biết, phải giải đáp, nói thẳng ra là do thói kiêu ngạo bẩm sinh mà sợ.
Nỗi sợ đầu tiên trong đời là những câu hỏi của thầy K., một ông thầy nghiêm khắc có tiếng, hay lấy thước đánh vào tay học trò có khi sưng tấy lên. Thời tôi còn là chú học sinh tiểu học, chuyện thầy đánh học trò là bình thường, phụ huynh chẳng những không oán trách mà còn đến nhà cám ơn thầy đã vì thương con mình mà cho roi cho vọt.
Không hiểu do định mệnh hay sao mà thầy K. luôn theo dạy lớp tôi từ lớp 2, lớp 3 cho đến khi tôi thi ri-me, hoàn thành cấp tiểu học cực nhọc. Nỗi sợ vì sĩ diện ban đầu của tôi đã thực sự biến thành nỗi sợ cái thước của thầy K. Những câu hỏi của thầy nhiều khi quá dễ ngay cả với tôi ngày đó. Chẳng hạn một phép cửu chương như bảy nhân chín bao nhiêu, vậy mà sao tôi thường trả lời sai.
Đó là vì tôi sợ cái thước, sợ mình sai, một dạng khác của nỗi sợ cái thước. Khi thầy gọi tên tôi đã run bắn người lên rồi. Tôi không đến nỗi đần độn, trong gia đình các cô chú cũng bảo tôi thông minh, nhưng có tới một nửa những câu hỏi bài dễ cỡ đó làm tôi lúng túng.
... Sau này khi đã già, có lần sang Pháp, ở Bordeaux, được anh bạn J.P Chavanat là giáo viên tiểu học mời đến thăm cái lớp 2 thân yêu của anh. Trong một giờ trên lớp, tôi đã nói chuyện với hai mươi hai học sinh, chủ yếu là các em hỏi tôi, còn tôi thì trả lời. Vẫn còn những câu hỏi làm tôi lúng túng. Ví như một em người gốc Ý hỏi tôi: “Ông Thân ơi, ở nước Việt Nam của ông có ban đêm hay không?”. Tôi lúng túng vì câu hỏi lạ. Tôi trả lời sau một lúc suy nghĩ: “Có chứ, ở đâu mà chả có ban đêm!”. Em bé đứng lên hẳn hoi, nói với tôi: “Thưa ông, ở Bắc Cực có khi không có ban đêm ạ?”. Vậy tôi lại trả lời sai rồi, đúng hơn tôi đã đưa ra một nhận xét sai! Đáng lẽ tôi chỉ nói “có chứ” là đủ. Đằng này vì sợ bị coi là kém hiểu biết, tôi đã chuốc lầm lỡ vào mình. Bước vào đời, tôi, đứa trẻ học lớp 3 vì sợ mà không trả lời được nhiều câu hỏi của một ông già. Khi đã là một ông già, tôi vẫn vì sợ mà trả lời sai câu hỏi của một em bé. Dù sao cũng buồn. Những câu hỏi theo tôi suốt cuộc đời buộc tôi phải trả lời để đi tiếp cuộc hành trình lúc hào hứng, lúc tẻ nhạt. Nhưng tôi cũng có những câu hỏi của riêng tôi, vì thế mà cuộc sống của tôi thêm hào hứng và cũng thêm mệt mỏi. Đời là vậy, không mấy ai chịu ngồi yên khi còn những khúc mắc trong đầu chưa được giải thoát. Nhiều lúc tôi suy nghĩ: không phải cha ông nói câu nào cũng đúng. Như câu “ngu si hưởng thái bình”. Đó là một câu tục ngữ thậm tệ, nó xui người ta tự sát về mặt tinh thần, nhâm nhi cái dốt nát hoặc khiêm tốn giả vờ để lấy điểm, hiểu biết nhưng lại tự coi mình dốt nát mà lấy làm sung sướng vì được yên ổn, bàng quan với sự đời xung quanh. Chung quy cũng vì sợ, nếu chú học trò lớp 3 là tôi sợ cái thước đến mất hồn mất vía thì người đàn ông trưởng thành trong tôi lại sợ cái khác. Vì sợ mà người ta đã không muốn dấn thân. Dấn thân là mạnh dạn đối mặt với những con Sphinx để bước qua một cái cổng, một bức tường, một chân trời. Nhớ lại câu thơ rất hay của thi sĩ Trần Dần: “Tôi thương những chân trời không có người bay”. Chân trời luôn có đó, luôn có những con Sphinx canh giữ, nhưng sao không có người bay? Vì người ta sợ cái giới hạn của bản thân, sợ sai lầm, sợ con nhân sư, sợ rơi bịch xuống đất, không có ngày quay lại cái tối thiểu là nơi mình đang yên ổn sống. Người ta muốn hưởng “thái bình” dù cái thái bình ấy như thế nào. Có thể đó chỉ là sự yên lành của cơm áo gạo tiền, ngày ba bữa no nê, cái yên ổn trong dốt nát và có thể trong tủi nhục, khoan khoái hưởng cái hôn với “đôi môi của người nô lệ” (ý thơ Phùng Quán). Chừng mực nào đó, không ai là không muốn và không biết dấn thân. Nhưng sẽ ân hận suốt đời và có thể nào yên ổn nếu ta cho qua đi mọi thứ xảy ra quanh mình mà không đặt câu hỏi “tại sao?”. Mỗi câu hỏi dù vặt vãnh, nhỏ nhặt hay liên quan đại sự nhưng luôn có ý nghĩa dấn thân cũng như tình yêu cuộc sống. ... ... Hỏi chưa phải đồng nghĩa với trả lời và có thể chưa hoặc không được trả lời. Nhưng hỏi là quan tâm, là dấn thân, là biết trăn trở, không “hờ hững với đời như bọt bể” (Thi Hoàng). Khi còn muốn hỏi là người ta còn yêu, tuy đang yêu, không ai còn bình yên nữa. Không ai sợ rơi, “chân trời sẽ có người bay”. … (Có lược bỏ 1 số đoạn) Nguồn: Nguyễn Quang Thân
boulevard of broken dreams © 2008. Chaotic Soul :: Converted by Randomness